Chia sẻ thủ thuật, kiến thức về phát triển bản thân, các loại sách hay nên đọc (ebook), bạn có biết,... và nhiều kiến thức khác.

Theo dõi Đăng kýNếu bạn quan tâm, hãy nhấn nút

Hành trình 60 giây trong kinh tế học

hanh trinh 60 giay trong kinh te hoc

1. "Bàn tay vô hình"

Nền kinh tế của một đất nước là một thứ rất khó để kiểm soát, và chính phủ luôn tìm cách để làm được điều đó.

Trở lại năm 1776, nhà kinh tế học Adam Smith đã gây sốc cho tất cả mọi người khi cho rằng điều mà nhà nước nên làm là để cho người dân tự do mua bán.

Ông cho rằng, nếu họ để cho thương nhân tư lợi cạnh tranh với nhau, thị trường sẽ được dẫn dắt đến những nơi có hiệu quả kinh tế cao bằng một "bàn tay vô hình".

Nếu có người bán với giá thấp hơn bạn, khách hàng sẽ quay sang mua hàng từ người đó, vì vậy bạn phải giảm giá hoặc là cung cấp một thứ gì đó tốt hơn.

Nếu một số lượng người đủ nhiều cần đến một thứ nào, thị trường sẽ cung cấp cho bạn thứ đó. Giống như những đứa trẻ được nuông chiều, và chỉ trong trường hợp này, ai cũng đều được vui.

Những người ủng hộ tự do kinh tế sau này như nhà kinh tế học người Áo, Friedrich Hayek, cũng cho rằng cách tiếp cận "không dùng tay" này thực sự có hiệu quả hơn bất cứ kế hoạch trung ương nào. Nhưng vấn đề là nền kinh tế phải mất một thời gian dài để đến được trạng thái cân bằng và thậm chí ngày càng bị trì trệ đi.

Trong khoảng thời gian đó, người ta có thể trở nên chán nản. Đó là lý do cuối cùng nhà nước vẫn thường đảm nhận việc thiết lập lại trật tự bằng cách dùng "bàn tay hữu hình" để thay thế.

2. Nghịch lý của tiết kiệm

Cũng giống như việc một đứa trẻ được nhận tiền tiêu vặt, thì một trong những câu hỏi lớn nhất của kinh tế học là: "Điều gì là tốt hơn, tiết kiệm hay tiêu dùng?".

Những người ủng hộ tự do kinh tế như Friedrich Hayek và Milton Friedman cho rằng, kể cả trong giai đoạn khó khăn thì tốt nhất vẫn nên tằn tiện và tiết kiệm.

Ngân hàng sẽ chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư vào nhà xưởng mới, nâng cao kỹ năng và kỹ thuật giúp chúng ta sản xuất ra được nhiều hàng hóa hơn.

Và thậm chí nếu như công nghệ khiến cho công nhân mất việc, lương giảm đi thì nhà tư bản sẽ thuê thêm lao động và cuối cùng lại làm cho tỉ lệ thất nghiệp giảm.

Đơn giản là vậy. Chí ít là nó đúng trong dài hạn...

Nhưng sau đó, một người "sống nhanh chết vội" tên là John Maynard Keynes hào hứng chỉ ra rằng: "Trong dài hạn, chúng ta đều chết".

Vì vậy, để tránh sự nghèo đói do thất nghiệp, chính phủ nên tăng chi tiêu để tạo thêm nhiều việc làm.

Ngược lại, nếu chính phủ "thắt lưng buộc bụng" khi người tiêu dùng và thương nhân cũng làm như vậy thì tiêu dùng xã hội sẽ giảm, tình trạng thất nghiệp sẽ càng trở nên trầm trọng.

Đó chính là nghịch lý của sự tiết kiệm.

Tóm lại, chính phủ nên tăng chi tiêu ngay bây giờ và bù đắp bằng thuế sau này khi người dân còn vui vẻ nộp. Mặc dù làm cách nào để người dân sẵn lòng nộp thuế là điều ngay đến Keynes cũng không giải quyết được.

3. Đường cong Phillips

Bill Phillips là một thợ săn cá sấu và nhà kinh tế học đến từ New Zealand. Ông là người chỉ ra rằng, khi tỉ lệ lao động có việc làm cao, tiền lương tăng nhanh hơn, người lao động có nhiều tiền hơn để tiêu dùng, giá cả tăng lên cùng với đó là lạm phát. Tương tự, khi tỉ lệ thất nghiệp cao, việc thiếu tiền để tiêu dùng đồng nghĩa với việc lạm phát giảm.

Điều này được biết đến là "Đường cong Phillips".

Chính phủ thậm chí đã đưa ra những chính sách dựa vào đường cong này, chấp nhận lạm phát khi họ tăng chi tiêu để tạo thêm nhiều việc làm.

Nhưng họ quên rằng, người lao động cũng có thể nhìn thấy được tác động của đường cong. Do đó, tỉ lệ thất nghiệp giảm, họ kỳ vọng lạm phát và yêu cầu lương cao hơn, khiến tỉ lệ thất nghiệp tăng trở lại trong khi lạm phát vẫn ở mức cao.

Đây chính là những gì đã xảy ra trong những năm 1970, khi cả tỉ lệ lạm phát và thất nghiệp tăng mạnh.

Sau đó, vào những năm 90, tỉ lệ thất nghiệp lại giảm và lạm phát ở mức thấp, cả hai đều uốn cong ra khỏi đường cong Phillips. Nhưng chí ít, tư tưởng về sự đánh đổi của ông vẫn còn tới bây giờ.

Khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh và người lao động có việc làm trở lại, bạn có thể tin chắc rằng lạm phát tất sẽ theo cùng để phá hỏng "cuộc vui".

4. Lý thuyết lợi thế so sánh

Cho dù bạn nghĩ rằng, nền kinh tế hoạt động hiệu quả nhất nếu nó tạo được tự do hay nhà nước phải làm điều gì đó để đảm bảo sự hoạt động đó, có một thứ mà bạn không thể kiểm soát được đó là phần còn lại của thế giới.

Lo sợ vì sự cạnh tranh từ nước ngoài có thời đã khiến các quốc gia nỗ lực hơn và tự sản xuất ra mọi thứ họ cần và áp dụng mức thuế cao để giữ cho quốc gia tránh khỏi hàng ngoại quốc.

Tuy nhiên, nhà kinh tế học David Ricardo đã chỉ ra rằng, thương mại quốc tế có thể làm cho mọi quốc gia giàu lên, mang đến một trong những mô hình kinh tế vĩ đại đầu tiên của thế giới.

Ông khẳng định, thậm chí nếu một quốc gia có thể sản xuất hầu như mọi mặt hàng với chi phí tối thiểu, cái mà các nhà kinh tế học gọi là "lợi thế tuyệt đối". Tốt hơn hết, quốc gia đó vẫn nên tập trung vào những mặt hàng có hiệu quả nhất, tức là ít nhất phải hy sinh việc sản xuất một số loại hàng hóa khác và để phần còn lại của thế giới làm điều đó.

Bằng chuyên môn hóa, những quốc gia đó có thể xuất khẩu sản phẩm dư thừa cho nhau và cuối cùng cả hai đều trở nên giàu có. Đây chính là lý thuyết lợi thế so sánh, và nó đã thuyết phục được rất nhiều quốc gia ký kết những bản thỏa thuận thương mại tự do.

Nhưng đáng tiếc là phải mất một thời gian rất dài để quốc gia đến được với sự thịnh vượng nhờ trao đổi buôn bán. Và bởi vì ngày nay là dễ dàng hơn để đến với nơi có tiền không chỉ bằng hàng hóa mới vượt ra biên giới quốc gia, mà cả con người, phần nào đó đã rời xa lý thuyết của Ricardo.

5. Bộ ba bất khả thi

Hầu hết các quốc gia trao đổi và buôn bán với một nước khác thông thường thì sẽ rất hay khi các nước đều hợp tác với nhau.

Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa sẽ khó khăn hơn cho mỗi quốc gia để có thể kiểm soát được tình hình tài chính của mình.

Có ba thứ mà mọi chính phủ đều đặc biệt chú trọng.

Thứ nhất, họ muốn giữ tỉ giá hối đoái ổn định để giá nhập khẩu và xuất khẩu không đột nhiên biến động.

Thứ hai, họ cũng muốn kiểm soát lãi suất để làm cho người đi vay vui vẻ mà không gây xáo trộn đối với tiết kiệm.

Thứ ba, đồng thời họ cũng muốn dòng tiền vào và ra không gây quá nhiều sự gián đoạn.

Nhưng sẽ có vấn đề xảy ra khi bạn cố làm tất cả những việc trên cùng một lúc.

Thử lấy một ví dụ, cộng đồng châu Âu cố gắng hạ mức lãi suất để giảm tỉ lệ thất nghiệp. Dòng tiền chảy ra ngoài để kiếm lợi nhuận ở những nơi có lãi suất cao. Tỉ giá hối đoái giảm, là nguyên nhân gây ra lạm phát, do đó mức lãi suất của châu Âu buộc phải tăng trở lại.

Bạn chỉ có thể hoặc cố định tỉ giá hối đoái và để dòng tiền chảy tự do qua biên giới quốc gia nhưng không đặt sự kiểm soát lên mức lãi suất trong nước. Hoặc là kiểm soát cả mức lãi suất và tỉ giá hối đoái nhưng sau đó bạn lại không thể chặn dòng vốn chảy vào hoặc ra.

Như một vận động viên ba môn phối hợp ôm đồm, đơn giản bạn không thể làm tốt cả ba việc cùng lúc.

6. Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Trong tất cả những yếu tố tác động đến việc vận hành một nền kinh tế, yếu tố phức tạp nhất chính là con người. Nhìn chung, con người là loài duy ý chí.

Khi giá cả của một thứ gì đó tăng, người ta sẽ cung cấp nó nhiều hơn và mua ít hơn.

Nếu họ kỳ vọng lạm phát tăng, người ta thường đòi được tăng lương (cho dù có thể họ sẽ không đạt được mong muốn). Và nếu họ có thể nhận thấy lãi suất hay tỉ giá hối đoái giảm mạnh ở một nước, người sở hữu nhiều tiền sẽ di chuyển nó ra ngoài, còn nhanh hơn cả "suy thoái kép".

Và chính phủ thường quyết định các chính sách kinh tế dựa trên những hành động duy lý đó.

Đó là điều tốt, nếu không vì thực tế thì những con người phiền nhiễu này không phải lúc nào cũng làm điều tốt nhất cho họ.

Đôi khi họ ngộ nhận rằng, họ biết hết mọi điều, hoặc có thể là do thực tế quá phức tạp. Và đôi khi con người chỉ quyết định theo số đông, dựa vào người khác để biết họ đang làm gì.

Khi có quá nhiều tài sản thế chấp giá rẻ được bán ra trong năm 2007, rất nhiều người không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Và cũng có rất nhiều người trong đó đơn giản chỉ là chạy theo số đông.

Một số người cho vay có thể đã tin một cách hợp lý rằng, khi khủng hoảng xảy ra, quy mô của vấn đề sẽ buộc chính phủ phải giải cứu họ.

Điều này đúng với các ngân hàng.

Còn với người tiêu dùng thì không.

CHỦ ĐỀ:    

0 nhận xét